Vài nét về BS Ý Đức

- Tiến sỹ Y Khoa Quốc Gia

- Tuổi Ất Hợi

- Cựu học sinh Chu Văn An Hà Nội

- Tốt nghiệp Đại Học Y Dược Khoa Sài Gòn

- Hành nghề liên tục tại Việt Nam-Hoa Kỳ gần 40 năm.

- Biên khảo các vấn đề Y tế, Dinh Dưỡng Xã hội, Lao động

- Tác phẩm: Thuốc Mỹ Chữa Bệnh Ta, An Hưởng Tuổi Vàng, Sức Khỏe và Đời Sống, Người Cao Tuổi Việt Nam trên Đất Mỹ, Dinh Dưỡng và An Toàn Thực Phẩm, Bệnh Người Cao tuổi, Câu Chuyện Thầy Lang.

- Cộng tác với nhiều nhật báo, tập san, truyền thanh (RFI, RFA, VOA, Vietnam Hải ngoại, VAB, Dallas Radio, Lạc Việt Radio-Canada),  Đài truyền hình O2TV, VAN-TV55.2 , các website trong và ngoài Việt Nam trong các tiết mục y tế xã hội, lao động, dinh dưỡng.

- Tham gia chính chương trình Vấn Đáp Sống Khỏe của Hội Con Rồng Cháu Tiên VN Canada và YKHOANET thực hiện.

Chữa bệnh Tim

             Chữa bệnh Tim

Bệnh tim vẫn được các nhà chuyên môn coi như bệnh của đời sống  nhất là ở Tây phương: ăn uống buông thả, không vận động cơ thể, nhiều căng thẳng và hút thuốc lá. Trong khi có  những  nghiên cứu đang kiếm cách phòng ngừa thì ngày nay đã có nhiều phương tiện để điều chỉnh các bệnh của tim.

Bịp Bợm Rẻ Tiền

Vào mùa Hè năm 1929, một sinh viên y khoa người Đức, 25 tuổi, Werner Forssman, tới một bệnh viện của Red Cross ở Eberswald  để bắt đầu giảng dậy về giải phẫu. Đến tháng Bẩy, mặc dù đã bị ông thầy đỡ đầu ngăn cấm, anh ta đưa một cái ống thông vào tĩnh mạch ở cánh tay của mình sâu tới 26 inc rồi tới khu X-ray.Sau khi đá vào xương ống chân của một người bạn đã cố gắng ngăn mình, anh ta chụp hình cái ống thông mà đầu kia đã được anh tự đưa sâu vào tâm nhĩ trái.

Phổ biến về nghiên cứu của anh ta cũng tạo ra một chút lưu ý của công chúng. Khi nộp đơn xin làm giảng viên ở Bá Linh, vị giải phẫu gia người Đức , ông Ferdinand Sauerbruch, huýt sáo nói: “Anh có thể dạy trong một gánh xiếc về trò bịp bợm rẻ tiền của anh chứ đừng bao giờ có ý định dạy ở một đại học danh tiếng  của nước Đức.”

Tuy vậy, Forssmann thử một lần nữa vào năm 1931. Lần này anh ta thực hiện một X-quang mạch máu bằng cách bơm chất cản quang qua ống thông vào trái tim của mình. Sau đó anh ta bị rơi vào bóng tối.

Nhưng việc làm của anh ta không sui sẻo

như vậy: Hai nhà nghiên cứu Hoa Kỳ Andre’ Courmand và Dickinson Richards có đọc bài này. Đến năm 1936, họ bắt đầu thực hiện một loạt các thử nghiệm trên súc vật để tìm ra sự thay đổi nồng độ của dưỡng khí và thán khí ở trong máu trái tim. Tới năm 1940, họ hoàn tất việc thông tim đầu tiên ở một bệnh nhân.

Kỹ thuật mới của ba nhà khoa học này sau đó trở thành thông lệ trong việc chẩn đoán bệnh tim.Họ lãnh giải Nobel năm 1936. Năm 1947, sự thông tim được dùng để nghiên cứu về bệnh tim bẩm sinh và 12 năm sau đó ta đã có thể chụp X-quang động mạch tim. Thêm vào đó, áp xuất của mỗi ngăn tim đều được đo.

Thông tim cũng được dùng trong việc chữa bệnh của tim. Mặt trong của động mạch vành, mà khi bị nghẽn có thể gây ra cơn suy tim, được làm sạch bằng cắt bỏ nội mạc động mạch vành. Năm 1967, bác sĩ  chuyên về bênh tim Sol Sobel ở Nữu Ước điều chỉnh phương pháp này bằng cách chích một lượng khí carbon vào động mạch qua một ống chích dưới da.  Ba năm trước đó, thông động mạch được một bác sĩ người Thụy Sĩ Andreas Grunzig thực hiện bằng cách đưa một quả bóng rất nhỏ vào chỗ động mạch bị tắc nghẽn rồi thổi phồng lên để mở đường cho máu lưu thông.

Dao mổ và thuốc viên

Tiếp theo sự mở đường của nhóm “ blue baby”, những phương pháp chẩn đoán mới và máy tim-phổi giúp việc mổ tim dễ dàng hơn.Giải phẫu đầu tiên là để điều chỉnh trường hợp bệnh tim bẩm sinh như thu hẹp động mạch chủ và có lỗ thông giữa tâm nhĩ và tâm thất.

Các van tim có nhiệm vụ kiểm soát hướng đi của dòng máu vào các bộ phận. Khi một trong số các van đó bị nghẽn thì tim sẽ làm việc yếu đi.Trong quá khứ, bệnh rheumatic heart là bệnh rất thường xảy ra cũng như hậu quả của bệnh là hẹp van hai lá. Tới năm 1948, bác sĩ chỉ cần đưa ngón tay vào đó là van mở ra. Sau này người ta không cần làm như vậy mà chỉ cần thay van hẹp đó bằng van nhân tạo.

Năm 1952, bác sĩ giải phẫu Hoa Kỳ Charles A. Hufnagel chỉ cần đưa một cái van bằng nhựa vào phần dưới của động mạch chủ ở trong lồng ngực. Ba năm sau các bác sĩ giải phẫu bắt đầu thay van bị hư bằng van lấy từ người chết.Từ đó thay van chia làm hai nhóm: một nhóm ở Hoa kỳ thích dùng van bằng nhựa và kim loại còn nhóm kia thích van động vật nhất là từ heo.

Trong số các van tổng hợp, van phổ thông nhất thuộc loại Star-Edwards được dùng năm 1960 và do hai người thực hiện: chuyên viên về tim Albert Starr và kỹ sư hàng không M.L. Edwards. Một số loại van khác đều được thử nhưng không thành công lắm. Chẳng hạn một vài loại máu cục nhiều khi thành hình; mấy loại khác trong đó lớp lót của trái tim lớn lên và ngăn không cho van mở; còn một vài loại khác có nhiều rối loạn đưa tới hồng cầu bị hủy hoại.

Các động mạch bị tắc ở dưới chân đã được thay thế từ năm 1950 nhưng mãi đến năm 1967 mới giải quyết được tắc nghẽn của động mạch vành.  Cũng năm này, bác sĩ giải phẫu bệnh tim mạch Rene Favaloro ở Cleveland Clinic, Ohio, khánh thành trung tâm làm đường vòng động mạch vành bằng cách lấy một đoạn tĩnh mạch ở dưới cẳng chân để tạo ra sự lưu thông của máu ở dưới và ở trên chỗ động mạch bị tắc nghẽn.

Thay đổi không những chỉ ở giải phẫu mà còn ở dược phẩm nữa.Năm 1960, ngài James Black xử dụng những beta- blockers để chặn tác dụng của hệ thần kinh giao cảm lên trái tim nhờ đó công việc của tim giảm. Mới đầu các beta-blockers được dùng để chữa cơn đau tim nhưng sau đó lại được dùng để hạ huyết áp và điều hòa nhịp tim; các công ty dược phẩm quảng cáo rất nhiều về beta-blockers mà các người trượt tuyết  và đua xe hơi đều dùng và thấy rất an toàn. Tuy nhiên, đến năm 1974, tác dụng phụ bắt đầu xuất hiện. Thuốc Eraldin sản xuất bên Anh, được cho là gây ra điếc, viêm phúc mạc, viêm màng phổi và tổn thương thị giác: có ít nhất 20 người bị mù và 18 người chết vì thuốc này.Tuy beta- blockers vẫn còn được dùng để chữa bệnh tim nhưng rủi ro của thuốc bây giờ được biết rõ hơn-thí dụ nếu ngưng thuốc bất thình lình có thể đưa tới cơn suy tim.

Hai dược phẩm được biết vì tác dụng làm loãng máu streptokinase sản xuất năm 1960 và aspirin đều khá công hiệu. Vào tháng Ba năm 1988, sau một vụ xét xử liên quan tới 17,000 bệnh nhân tại 400 bệnh viện ở 16 quốc gia cho hay nếu  dùng  streptokinase trong vòng mấy giờ sau cơn suy tim, kèm theo một lượng nhỏ aspirin thì tỷ lệ tử vong giảm tới 40%.

Cùng năm đó, kết quả của Physician Health Study, bắt đầu năm 1983 với 22,000 bác sĩ, cho hay nếu ta dùng 325 mg aspirin  mỗi hai ngày thì có thể giảm nguy cơ cơn tử vong tới 40%.

Cũng năm đó, những kết quả nghiên cứu của American Physician Health Study bắt đầu năm 1983 với 22,000 bác sĩ, cho hay nếu dùng 325 mg aspirin mỗi hai ngày sẽ giảm rủi ro bị nhồi máu cơ tim tới 47%. Kết quả này được sự hỗ trợ của Richard Peto và đồng viện tại Oxford University, Anh quốc. Họ phân tích kết quả nghiên cứu của 215 vụ thử bao gồm 100,000 người. Nhưng họ lại khuyên nên dùng một viên 75mg mỗi ngày./.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, Chuyển Ngữ.

Comments are closed